XNK HOA CHAT VIET NAM - IM & EX CHEMICAL VIET NAM

Chuyen cung cap : Hydrogen Peroxide, Acid acetic, Sodium Hydrosulfite, Soda ash, Javen, Caustic Soda, NP9, Ete, Sodium Lauryl Sunfate, Aceton, Methanol, Sodium Bicacbonate, Dung moi, Bot Mau... . .

UNG DUNG HOA CHAT

Su dung chat gay me trong nuoi trong thuy san

Posted on April 26, 2013 at 7:30 AM

Sử dụng chất gây mê trong nuôi trồng thủy sản

THƯƠNG MẠI THỦY SẢN - Số 135 | Tháng 03/2011

Bài viết tóm tắt nội dung kỹ thuật của hội thảo “Nguyên lý ứng dụng thuốc gây mê trong nuôi trồng thủy sản”, tổ chức tại Cần Thơ, ngày 1/12/2010. TS. Lydia A. Brown, TGĐ Pharmaq AS và Ông Phạm Công Thành, GĐ kỹ thuật và tiếp thị Văn phòng đại diện công ty tại Việt NamStory tool

E-mail this storyPrint this storyỞ nước ta từ lâu, dân nhiều vùng đã biết sử dụng cây duốc cá (Derris Tonnkinensis) để gây mê cá ở hồ ao, sông, suối nhằm đánh bắt dễ dàng hơn hoặc diệt cá tạp trong quá trình chuẩn bị ao nuôi. Trên thế giới, kỹ thuật gây mê mới được ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản khoảng 60 năm lại đây để hạn chế làm trầy xước và giảm stress khi cần bắt giữ, vận chuyển thủy sản thủy sản, khi tiêm vắc xin, làm thủ thuật sinh sản nhân tạo….Bài viết tóm tắt nội dung kỹ thuật của hội thảo “Nguyên lý ứng dụng thuốc gây mê trong nuôi trồng thủy sản”, tổ chức tại Cần Thơ, ngày 1/12/2010.

 

Tác động của chất gây mê

 

Để gây mê cho thủy sản theo phương pháp tắm, trước hết hòa tan chất gây mê trong nước tắm, sau đó thả cá, hoặc tôm cần gây mê vào nước. Chất gây mê thâm nhập qua tơ mang cá trong hô hấp, hòa vào máu và chuyển lên não, tác dụng làm cho cá chuyển sang trạng thái mê. Cá trầm tĩnh dần, hoạt động chậm lại, sau đó bị mất cân bằng và không phản ứng lại khi bị bắt giữ, đụng chạm. Trong thời gian này, nhịp tim và hô hấp của cá cũng chậm lại tùy theo liều lượng chất gây mê và thời gian gây mê.

 

Mặc dù kỹ thuật gây mê cho thủy sản không quá phức tạp và cũng không đòi hỏi đào tạo các bác sĩ và kỹ thuật viên như đối với người, tuy nhiên những hiểu biết để thực hành đúng kỹ thuật gây mê cũng rất cần thiết, vì nếu sử dụng không đúng loại chất gây mê, hoặc sử dụng quá liều, thời gian gây mê quá dài có thể làm cá chết hàng loạt, gây tổn thất kinh tế lớn.

 

Chuẩn bị gây mê

 

Không cho cá ăn trong 12-24 giờ trước khi gây mê để bảo đảm trong dạ dày hoàn toàn trống rỗng, tránh cá bị ựa thức ăn ra. Khi bắt cá, chú ý giữ tay luôn ướt và thao tác nhẹ nhàng để không gây trầy xước da cá. Phải bố trí công việc sao cho người thực hiện các thao tác trong quá trình gây mê không bị chi phối bởi những công việc khác, nhằm duy trì thời gian gây mê ngắn nhất.

 

Kiểm tra, duy trì các thông số môi trường như nhiệt độ, hàm lượng ôxy hòa tan, độ pH, độ mặn, độ cứng trong bể gây mê giống với môi trường nước nuôi để tránh gây sốc cho cá. Nhiệt độ không được chênh lệch quá 20C. Kiểm tra hàm lượng NH3, khử sạch cặn bẩn trong bể gây mê. Phần lớn chất gây mê có tính axit làm giảm pH của môi trường, có thể sử dụng muối đệm như sodium bicarbonate để tăng pH đến giá trị phù hợp. Bố trí sục khí liên tục để duy trì hàm lượng ô xy hòa tan trong môi trường nước.

 

Chọn chất gây mê phù hợp (có được cho phép sử dụng cho cá hay không?), điều chỉnh liều lượng theo nhiệt độ, độ mặn, độ pH, hàm lượng ôxy hòa tan của nước; cũng như loài, kích cỡ, sinh khối và mật độ cá trong bể. Để bảo đảm quản lý được tác dụng của chất gây mê, không nên gây mê với sinh khối cá vượt quá 80g/lít (80kg/m3).

 

Điều chỉnh liều gây mê theo mục đích gây mê. Khi vận chuyển trong thời gian dài, chỉ nên sử dụng liều thấp để đưa cá vào trạng thái mê nhẹ, nhằm làm giảm hoạt động và quá trình trao đổi chất nhưng vẫn giữ được trạng thái cân bằng.

 

Cá bố mẹ có độ béo cao, chất gây mê có thể bị giữ lại lâu hơn trong lớp mỡ và phân hủy chậm, gây ra tác dụng dài hơn so với cá con, do đó liều gây mê cho cá bố mẹ phải thấp hơn so với liều gây mê cá con.

Theo dõi quá trình gây mê

 

Trong quá trình thao tác, cần quan sát chặt chẽ trạng thái của cá để xử lý khắc phục kịp thời nếu có sự cố, tránh trường hợp gây mê quá liều hoặc quá lâu gây chết cá. Kinh nghiệm cho thấy, thời gian tác dụng của chất gây mê phụ thuộc vào loài cá, chẳng hạn cá hồi chuyển sang trạng thái mê rất nhanh, trong khi cá rô phi phải qua quá trình chuyển trạng thái khá dài. Diễn biến biểu hiện của cá trong quá trình gây mê được mô tả trong Bảng 1.

 

Hồi sức sau gây mê

 

Chất gây mê sau quá trình tác dụng sẽ bị phân hủy, quay trở lại máu và bị thải ra môi trường qua hô hấp của cá. Khi cá được đưa vào môi trường nước sạch mới, thuốc mê bị bài thải hết, cá sẽ dần trở lại trạng thái bình thường. Do đó, ngay sau khi hoàn thành các thao tác cần thiết (như tiêm vắcxin, vuốt trứng, vận chuyển, ...) cần chuyển cá sang bể nước sạch để hồi sức càng nhanh càng tốt. Bảng 2 mô tả các giai đoạn hồi tỉnh của cá sau gây mê.

 

Cũng giống như bể gây mê, cần chuẩn bị trước bể hồi sức với nước sạch và có các thông số môi trường giống với môi trường nước trong bể gây mê, duy trì sục khí liên tục. Sau khi hồi sức, chuyển ngay cá trở lại công trình nuôi.

 

Yêu cầu chất gây gây mê

 

Chất gây mê lý tưởng để sử dụng trong nuôi trồng thủy sản phải đáp ứng các yêu cầu tác dụng gây mê nhanh (từ 1 đến 5 phút), thời gian hồi sức ngắn (ít hơn 5 phút), không độc với thủy sản và người sử dụng, an toàn với môi trường, dễ sử dụng, sẵn có, dễ mua, giá thành không cao.

 

Chất gây mê phải chuyển hóa hoặc bài tiết nhanh, thời gian phân hủy ngắn, không không để lại di chứng, tồn dư (hoặc tồn dư không đáng kể) trong các mô trong cơ thể.

 

Mặc dù có nhiều chất gây mê, nhưng chỉ có một số chất được phép sử dụng đối với thủy sản nuôi với những mục đích khác nhau. Hiện nay, Mỹ và các nước châu Âu chỉ cho phép sử dụng duy nhất tricaine methanesulphonate (MS-222 hay TMS) để gây mê cho cá thực phẩm. MS-222 có công thức hóa học là C10H15NO5S, là chất gây mê dẫn xuất từ cocain, được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới với độ an toàn cao cho nhiều loài cá và tôm. Chất này còn có nhiều tên gọi khác như tricaine, methane sulfonate, metacaine, ethyl m-aminobenzoate, ...

 

TMS dạng bột màu trắng, hàm lượng tan tối đa trong nước 11%, có thể hòa tan trực tiếp trong bể gây mê và có thể sử dụng với dung dịch đệm sodium bicarbonte để điều chỉnh pH. Cũng có thể pha trước dung dịch gốc theo tỷ lệ 1g TMS và 1g sodium bicarbonate (nếu cần) trong 100ml nước cất. Khi sử dụng, pha 10ml dung dịch gốc trong 1l nước cất sẽ được nước gây mê có nồng độ 100mg/l. Bảng 3 nêu ví dụ về liều gây mê sử dụng cho một số loài cá với các mục đích khác nhau.

 

Ngoài MS-222, một số chất gây mê khác cũng được sử dụng đối với thủy sản nuôi, nhưng chỉ đối với thủy sản làm cảnh, không được làm thực phẩm, như benzocaine, 2-phenoxyethanol. Dầu đinh hương (clove oil) chiết xuất từ thân, lá và chồi cây đinh hương (Eugenia caryophylla) cũng là loại chất gây mê thường dùng cho cá cảnh giá trị cao.

 

Hoàng Thanh

Biên dịch theo TS Lydia Brown, TGĐ Pharmaq


 


 

 

Categories: None